Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học: Không dàn hàng ngang

calendar-icon 05/01/26 11:17
Tác giả: Minh Phong

Theo Giáo dục thời đại - Thực chất cho thấy, chất lượng dạy và học tiếng Anh còn nhiều chênh lệch, đặc biệt ở vùng khó khăn, khi năng lực học sinh chưa đồng đều, điều kiện dạy học hạn chế và thiếu giáo viên.

Học sinh Trường Tiểu học Mồ Dề, tỉnh Lào Cai học tiếng Anh qua sự hỗ trợ trực tuyến của giáo viên tại Hà Nội. Ảnh: Nghiêm Huê

Những bất cập này đặt ra thách thức lớn cho mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Thiếu giáo viên trầm trọng

Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam vừa khảo sát thực trạng dạy và học tiếng Anh tại ba địa phương trước khi sáp nhập địa giới hành chính gồm Hà Nội, Tuyên Quang và Sóc Trăng, với 1.440 học sinh và 960 giáo viên tham gia. Theo ông Đỗ Đức Lân - Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Hợp tác và Phát triển, tại khu vực nông thôn, có khoảng 30 - 40% học sinh chưa tự tin về năng lực tiếng Anh, dù điểm số trên học bạ vẫn ở mức khá.

Đánh giá của giáo viên cho thấy, chỉ 3 - 4% học sinh đạt mức vượt chuẩn; 50% đạt chuẩn; khoảng 35% gần đạt và phần còn lại chưa đạt yêu cầu. Đáng chú ý, 14% học sinh cho rằng bài kiểm tra, đánh giá môn Tiếng Anh chưa phù hợp; nhiều em chịu áp lực khi học, thiếu môi trường thực hành và cơ hội được đánh giá thường xuyên ở kỹ năng nghe - nói.

Về điều kiện dạy học, phần lớn giáo viên (40 - 50%) nhận định nhà trường mới đáp ứng được một phần yêu cầu. Chỉ 25 - 27% cho biết điều kiện được đáp ứng đầy đủ. Tỷ lệ giáo viên đủ năng lực dạy các môn học bằng tiếng Anh còn rất thấp. Nhiều cán bộ quản lý và giáo viên chung quan điểm rằng việc triển khai dạy học tích hợp bằng tiếng Anh gặp khó khăn chủ yếu do hạn chế về đội ngũ. Từ kết quả khảo sát, ông Đỗ Đức Lân đặt vấn đề: Việc thực hiện các đề án tăng cường ngoại ngữ liệu có gặp trở ngại khi tiếng Anh chỉ là môn thi tự chọn trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT?

Toàn huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang cũ (nay thuộc Tuyên Quang) chỉ có một giáo viên tiếng Anh cho 18 trường tiểu học. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, Tiếng Anh là môn bắt buộc từ lớp 3, nhưng các trường đang đối mặt thách thức lớn về thiếu giáo viên. Bà Lục Thị Hà - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Pả Vi, cho biết chỉ tiêu tuyển dụng còn nhiều, song hầu như không tuyển được, khiến việc triển khai môn học gặp nhiều khó khăn.

Cơ bản đồng tình với chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, song bà Nguyễn Thị Lan Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) bày tỏ băn khoăn trước mục tiêu “đến năm 2030, ít nhất 30% cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông có thiết bị triển khai dạy học tiếng Anh”. Theo bà, việc áp dụng đồng loạt tỷ lệ 30% cho mọi địa phương, không tính đến điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng và nguồn nhân lực, là chưa phù hợp.

Điều này có thể dẫn tới thiếu công bằng, nhất là với các tỉnh miền núi, vùng sâu, xa và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số - nơi hiện gặp nhiều rào cản như thiếu giáo viên, năng lực giảng dạy hạn chế và gánh nặng ngân sách cho thiết bị, vận hành.

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai. Ảnh minh họa: Internet

Bảo đảm điều kiện triển khai

Về đội ngũ giáo viên - yếu tố quyết định trong lộ trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, bà Huỳnh Thị Ánh Sương (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi) nhấn mạnh, giáo viên không chỉ cần kiến thức chuyên sâu và nắm vững thuật ngữ chuyên ngành, mà còn phải có kỹ năng tiếng Anh tốt. Tuy nhiên, hiện, các cơ sở đào tạo chủ yếu mới đáp ứng nhu cầu giáo viên dạy tiếng Anh, chưa chú trọng đào tạo giáo viên các môn học bằng tiếng Anh. Ở vùng sâu, xa, tình trạng thiếu giáo viên tiếng Anh càng nghiêm trọng.

Đại biểu đề nghị cần cụ thể hóa mục tiêu đến năm 2030 theo hướng bồi dưỡng, đào tạo giáo viên đủ năng lực dạy học bằng tiếng Anh. Mục tiêu này phải tương ứng với tỷ lệ cơ sở giáo dục được trang bị thiết bị phục vụ dạy - học bằng tiếng Anh; tránh tình trạng đầu tư thiết bị nhưng không có giáo viên vận hành, gây lãng phí.

Đồng quan điểm, bà Trần Khánh Thu (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) dẫn thực trạng, cả nước đang thiếu khoảng 4.000 giáo viên tiếng Anh; riêng giáo viên vùng núi có độ tuổi trung bình cao (44,2 tuổi), khó đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp. Cơ sở vật chất giữa các vùng miền vẫn còn chênh lệch lớn, nhiều nơi chưa có phòng học, thiết bị phù hợp. Bà lo ngại việc đầu tư thiết bị trong khi đội ngũ không đủ chuẩn sẽ làm giảm hiệu quả chính sách.

Từ thực tiễn đó, đại biểu kiến nghị xây dựng lộ trình cụ thể, ưu tiên cho vùng khó khăn. Trong đó, cần hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng phòng ngoại ngữ đạt chuẩn cho các trường ở huyện miền núi trước năm 2030; tăng phụ cấp thu hút lên 70% - 100% lương cơ bản, hỗ trợ nhà ở để thu hút giáo viên giỏi về công tác. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, mở rộng lớp học trực tuyến, khai thác trí tuệ nhân tạo nhằm bù đắp thiếu hụt nhân lực; xây dựng các trung tâm tiếng Anh theo mô hình liên xã để nâng cao cơ hội tiếp cận cho học sinh vùng khó khăn.

Ông Nguyễn Thế Sơn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ GD&ĐT), cho biết, Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai dự kiến tác động tới khoảng 50.000 cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học, với gần 30 triệu trẻ em, học sinh, sinh viên và hơn 1 triệu cán bộ quản lý, giáo viên trên cả nước.

Đề án triển khai trong 20 năm (2025 - 2045), qua ba giai đoạn: 2025 - 2030: Xây dựng nền tảng, chuẩn hóa; 2030 - 2035: Mở rộng, tăng cường sử dụng tiếng Anh; 2035 - 2045: Hoàn thiện, hình thành hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh tự nhiên trong dạy học, giao tiếp và quản trị nhà trường.

Liên quan việc thiếu giáo viên, ông Sơn cho biết không chỉ môn Tiếng Anh mà nhiều môn học khác cũng thiếu. Bộ sẽ phối hợp với Cục Nhà giáo để tham mưu giải pháp tổng thể. Các địa phương cần chủ động xây dựng kế hoạch, đặc biệt về đội ngũ; xem xét các cơ chế thu hút giáo viên về vùng khó, mở rộng sử dụng giáo viên ngoài biên chế hoặc giáo viên nước ngoài để đáp ứng nhu cầu giảng dạy.

Ông Nguyễn Thế Sơn cho biết, Bộ GD&ĐT khẳng định sẽ triển khai theo lộ trình, ưu tiên các địa phương có điều kiện, không dàn hàng ngang. Vấn đề giữ gìn tiếng mẹ đẻ và dạy tiếng của nước láng giềng ở vùng biên giới cũng được tính toán trong quá trình xây dựng kế hoạch.

Bài viết liên quan

Linh hoạt triển khai, lan tỏa hiệu quả công tác xóa mù chữ

Linh hoạt triển khai, lan tỏa hiệu quả công tác xóa mù chữ

calendar-icon 27/11/25 08:25
Theo Giáo dục thời đại - Các địa phương triển khai chương trình xóa mù chữ linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ; từ đó, tỷ lệ biết chữ tiếp tục được nâng lên.Tập huấn công tác dạy và học Chương trình xóa mù chữ cho cán bộ quản lý và giáo viên tại tỉnh An Giang. Ảnh: Đức Duy.Sáng tạo thực hiện chương trình xóa mù chữBộ GD&ĐT đã ban hành Bộ tài liệu hướng dẫn thực hiện Chương trình xóa mù chữ giai đoạn 1, giai đoạn 2; đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương khai thác và sử dụng Bộ tài liệu bảo đảm chất lượng, hiệu quả.Các Sở GD&ĐT đã chỉ đạo và hướng dẫn các đơn vị được giao nhiệm vụ xóa mù chữ xây dựng kế hoạch dạy học theo Chương trình xóa mù chữ mới và các hướng dẫn của Bộ GD&ĐT; đồng thời tổ chức sử dụng hiệu quả Bộ tài liệu hướng dẫn dạy - học.Các địa phương cũng chủ động huy động, khai thác tối đa nguồn lực sẵn có như cơ sở vật chất, thiết bị của các trường học, nhà văn hóa thôn xóm, trung tâm học...
Lan tỏa tinh thần ‘học không bao giờ cùng’

Lan tỏa tinh thần ‘học không bao giờ cùng’

calendar-icon 29/11/25 08:45
Theo Giáo dục thời đại - Việc học là quá trình liên tục, góp phần thiết thực vào việc nâng cao dân trí, đẩy lùi nguy cơ tái mù chữ và bồi dưỡng nhân tài tại TP Cần Thơ. Lễ phát động Tuần lễ Hưởng ứng học tập suốt đời năm 2025 tại TP Cần Thơ. Từ thủ khoa gen Z đến “ông Hùng công nghệ” 63 tuổi Tại Lễ phát động Tuần lễ Hưởng ứng học tập suốt đời và Kỷ niệm Ngày Khuyến học Việt Nam vừa qua, TP Cần Thơ đã vinh danh nhiều cá nhân và tập thể tiêu biểu, minh chứng cho phong trào “Học không bao giờ cùng” đang lan tỏa mạnh mẽ. Đặc biệt, qua đó khẳng định việc học là quá trình liên tục, góp phần thiết thực vào việc nâng cao dân trí, đẩy lùi nguy cơ tái mù chữ và bồi dưỡng nhân tài cho địa phương. Lễ vinh danh đã trao học bổng “Tiền Trạng nguyên Tây Đô” cho các tân sinh viên có thành tích xuất sắc, trong đó có Lư Tăng Tuyết Minh, thủ khoa đầu vào ngành Giáo dục mầm non, Trường Sư phạm, Đại học...
Triết lý giáo dục thời đại số: Từ tư duy đến hành động

Triết lý giáo dục thời đại số: Từ tư duy đến hành động

calendar-icon 20/01/26 10:51
Theo Giáo dục thời đại - Trong bối cảnh chuyển đổi số, triết lý “giáo dục mở, linh hoạt, hiện đại, nhân văn” đã được xác lập, với trọng tâm là người học, chuyển từ dạy kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực. Trường Phổ thông DTBT THCS Yên Tĩnh (Yên Na, Nghệ An) lần đầu tiên có học sinh giỏi tỉnh. Ảnh: Hồ Lài Tuy vậy, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn không ít điểm nghẽn. Để đưa triết lý này đi vào đời sống giáo dục, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ từ tư duy đến hành động. Từ đổi mới tư duy đến biện pháp giáo dục Cô giáo Đặng Thị Hiền - Trường THPT Yên Thành 2 (Quan Thành, Nghệ An), vừa ghi dấu một “chuyến đò” cập bến thành công khi lớp 12A5 do cô chủ nhiệm có hơn 90% học sinh đỗ đại học năm 2025. Đáng chú ý, hai lớp do cô trực tiếp giảng dạy môn Địa lý có tới 30 học sinh đạt điểm 10. Trong đó, lớp 12A8 thiên về khối C đạt điểm trung bình 9,32; còn lớp 12A5 dù là...